Hoằng nguyện · Đỉnh kiếp cứu đời, hoằng dương Thánh Đạo
Kỳ Tiền Nhân, pháp húy Ngọc Dung, người huyện Tĩnh Hải, tỉnh Hà Bắc, sinh năm Dân Quốc thứ năm (năm 1916). Từ thuở ấu thơ đã có căn cơ trí tuệ sâu dày, trưởng thành càng hiểu lễ nghĩa, học vấn uyên bác. Thời trẻ, Ngài giữ chức quản lý tại tiệm vải Vạn Hưng Hằng ở Thiên Tân. Năm Dân Quốc 29 (năm 1940), sau khi cầu đạo tại Đường Cô, Ngài được đạo rồi một lòng không rời Đạo, thường đến Đàn Đồng Hưng tại Thiên Tân tham gia hành đạo, rộng độ hữu duyên. Sau đó tham dự Ban Sám Hối, phát đại nguyện đỉnh kiếp cứu đời. Khi nghe tin Sư Mẫu tuyển chọn nhân tài sang Đài Loan khai hoang hoằng đạo, Ngài dứt khoát rời bỏ gia đình và sự nghiệp. Năm Dân Quốc 37 (năm 1948), cùng với Trần Đại Cô, Triệu Đại Cô và các vị khác, Ngài lên chuyến tàu Mỹ Tín cuối cùng sang Đài Loan. Không ngờ chẳng bao lâu sau, đại lục đổi cờ, từ đó Ngài bặt tin với song thân và con gái thơ.
Biến động · Ứng biến linh hoạt vượt qua khảo nghiệm quan quyền
Sau khi đến Đài Loan, Kỳ Tiền Nhân theo phò Hàn Lão Tiền Nhân, cùng vài vị Tiền Nhân khác trợ giúp đạo vụ. Cuối năm 37 (năm 1948), Ngài được điều về Đài Nam, hỗ trợ đạo vụ cho Lưu Toàn Tường Tiền Nhân, cảm hóa độ dẫn một số quân nhân không quân. Khi ấy chính cục bất ổn, mùa thu năm 38 (1949 )có người trong quân đội tố cáo, Kỳ Tiền Nhân cùng Lưu Tiền Nhân và ba người khác bị bắt giam. Nhờ Kỳ Tiền Nhân nhanh trí ứng biến nên việc tra tấn được đình chỉ, vụ án khép lại và bị tạm giam chờ xử. Sau đó do không đủ chứng cứ, quyết định trục xuất về Quảng Châu, nhưng vì đại lục đã thất thủ nên không thể thi hành. Do bị giam lâu ngày dưới hầm, Kỳ Tiền Nhân mắc bệnh phù thũng, được cho tại ngoại chữa bệnh, mới kết thúc quãng thời gian lao ngục kéo dài ba tháng rưỡi.
Mặc nguyện · Thành kính trước sau, hành đạo báo ân
Vừa thoát nạn, Kỳ Tiền Nhân lại phải đối diện với khó khăn sinh kế do nguồn kinh tế từ đại lục bị cắt đứt và cải cách tiền tệ. Các vị Tiền Nhân cùng nhau mở tiệm tạp hóa tại chợ Đông Môn, vất vả mưu sinh vượt qua khốn khó. Do gian khổ lâu dài, thân thể suy yếu, năm Dân Quốc 52 (năm 1963) Ngài mắc ung thư trực tràng. Không muốn làm liên lụy hậu học, Ngài từ chối phẫu thuật, tự nhủ đại nguyện chưa xong, liền tại Phật đường âm thầm dùng Tam Bảo cầu khấn Thượng Thiên. Lập tức cảm nhận một luồng khí ấm từ đỉnh đầu lan tỏa khắp thân và xuống đến bàn chân, bệnh tình dần thuyên giảm. Năm sau, trong kỳ Ban Sám Hối ba ngày, Chủ Khảo giáng đàn phán rằng:
“Lão Mẫu biết con hy sinh gia nghiệp, sang Đài Loan khai hoang hành đạo, đặc biệt gia thọ hai kỷ. Con chỉ cần biết ơn và dốc lòng hành đạo là đủ.”
Xướng đạo · Lãnh đạo tập thể, sáng tạo đạo trình
Do phải chăm lo việc kinh doanh, lại thêm bị các cơ quan tình báo giám sát sau khảo nghiệm, đạo vụ phát triển chậm lúc ban đầu. Tuy nhiên, Kỳ Tiền Nhân đối đãi từ ái, thân thiện, lấy thân mình làm gương hành đạo, nên nhiều đạo thân ngưỡng mộ phong phạm mà đến gần đạo tràng. Năm Dân Quốc 48 (năm 1959), lấy Phật đường Tứ Duy làm nền tảng, Ngài mở lớp nghiên cứu, hàng tuần giảng Tứ Thư, đào tạo nhân tài, đạo vụ ngày càng hưng thịnh. Các Phật đường lần lượt được thành lập; năm 75 (năm 1986), Thiên Ân Cung hoàn thành, đạo vụ càng phát triển mạnh mẽ. Trong thời gian này, Ngài cùng Trương Bồi Thành và các vị Tiền Nhân khác bôn ba vận động cho việc hợp pháp hóa Nhất Quán Đạo. Ngài tích cực đề xướng mô hình lãnh đạo tập thể, vận hành thống nhất, duy trì đạo phong nhất quán của đại đạo tràng. Đạo tràng Thiên Ân lấy Thiên Ân Cung làm trung tâm đạo vụ, mở rộng khắp Bắc – Trung – Nam, đồng thời thành lập quỹ thúc đẩy các hoạt động công ích. Đạo tràng hải ngoại bắt đầu từ năm Dân Quốc 68 (năm 1979), trong vòng ba mươi năm đã truyền bá khắp Thái Lan, Tân – Mã, Mauritius, Indonesia, Hồng Kông – Ma Cao, Mỹ – Canada, Tây Ban Nha, Úc – New Zealand và nhiều nơi khác.
Sứ mệnh · Hỷ xả phụng hiến, lưu truyền muôn thuở
Kỳ Tiền Nhân sống cung kính tiết kiệm, khoan hậu với mọi người, tôn sư trọng đạo, nối tiếp tiền bối khai mở hậu học, có đạo tình sâu đậm hòa hợp với các bậc tiền bối thuộc dây tổ khác. Đại đức của Ngài được các đạo tràng và hậu học khắp nơi cảm niệm. Năm Dân Quốc 81 (năm 1992), công viên quả mãn, vinh dự được Lão Mẫu sắc phong danh hiệu “Chí Đức Đại Đế.” Suốt đời Ngài hiến dâng tất cả cho sứ mệnh và cho chúng sinh; đức hạnh và đạo phong ấy mãi mãi rạng ngời trong sử sách.